bạn bè

chuyện phiếm đã cũ…


Jun 6, ’09 1:37 PM

27 năm bỏ “tạlỗi trường sơn’ trong ngăn kéo. Giờ đưa ra chỉ như một tiếng thở dài được trút.nó chẳng là gì ghê gớm so với hôm nay.nhưng cái gì đã viết ,cái nhìn của một thời đã qua dù thế nào cũng để cho cuộc đời phán xét nó .có người chế trách tôi tại sao chọn thời điểm 30/4 /09 ? thưa,vì nó khởi đầu từ 30/4-75,thưa,vì năm ngoái ngày này(30/4/2008) tôi đang ở Hoa Kỳ, có chút tự trọng thì đợi về nhà hãy công bố.còn cái tên nghe rất hàn quốc này cũng có lý do của nó

Nó ở đây.từ hoàn cảnh riêng của tác giả

HOÀNG NGỌC BIÊN

Khi tôi lên máy bay đi Mỹ, sau này tôi mới biết, Chung Do Kwan có mặt ở phi trường. Hắn đứng đâu, tôi không biết. Bạn bè anh em đưa tiễn tôi rất đông. Không ai trong số đó biết mặt Chung. Có thể một vài anh em có biết mặt Chung dưới một tên khác – điều đó không nằm trong hiểu biết, cũng không nằm trong những giới hạn tưởng tượng của tôi. Phi trường Tân Sơn Nhứt hôm ấy, vào giờ chúng tôi có mặt, sương mù bao phủ dày đặc. Có phải nhờ đó mà Chung đã dễ dàng không bị ai nhìn thấy? Cho đến khi tôi bỏ lại Saigon sau lưng, Chung đối với những bạn bè thường xuyên lui tới với tôi vẫn không hiện hữu. Anh ấy vẫn là một người không có quốc tịch, không có khai sinh, không nguyên quán, không trú quán, không gia đình, không bà con, không cả hình thù. Bạn bè thì có lẽ phải tính là mọi người: anh ấy đi đứng bình thường, nói tiếng Việt giọng bắc như người Việt, gặp ai cũng chào hỏi, cười nói, như một người dễ tính. Nhưng tôi từng tiếp xúc với Chung trước đó khá lâu. Chung hoàn toàn không phải dễ tính. Chàng thanh niên ấy dễ hi vọng, và khi thất vọng cũng không dễ bỏ qua. Hiện giờ Chung là ai giữa Saigon, tôi không thể nào biết đích xác…

Những ngày còn ở Saigon, tôi không gặp Chung thường như với những anh em bạn bè khác. Giữa tôi và Chung có phải đã có một bí mật chung, thích thú đến nỗi chúng tôi thà ít quan hệ để có thể kéo dài tình trạng ấy, còn hơn là thường xuyên gặp nhau để mọi chuyện đổ bể? Tôi không biết. Cả hai chúng tôi gặp nhau không ai, và không khi nào đề cập đến chuyện này. Thế tuy nhiên, khi qua đến Mỹ, nhớ lại bài thơ của Chung, nhớ tới cái khuôn mặt ngổ ngáo và hai đường đen mỏng dính kẻ lên mặt thay cho hai con mắt trời ban cho kia, núp sau đôi kính cận dày liên tục được Chung gỡ ra để đưa xuống vạt áo thun lau chùi, thú thật tôi nhớ Chung không kém những anh em bạn bè ngày đêm gặp gỡ và làm việc với nhau. Một lần ngồi ở Salt Lake Roasting Company ở góc đường 500 East 400 South, nhìn xuống cái trạm xăng sáng đèn chìm trong tuyết tháng Giêng, tôi lấy giấy bút ra chép lại bài thơ của Chung, rồi buồn bã ghi lên giấy mấy chữ về chàng thanh niên kỳ lạ ấy

Chung Do Kwan – chiếc quần jeans xanh bạc màu…*

… Tôi gặp Chung Do Kwan cả thảy đâu năm bảy lần. Đầu năm 1975, anh khoảng trên dưới mười tám tuổi, sinh viên Đại Hàn, đến Việt Nam để học tiếng Việt, như Hasegawa trước đây, từ Nhật Bản. Lần đầu tiên anh bước vào văn phòng làm việc của tôi ở Bộ Giáo dục là vào giữa giờ trưa, áo trắng quần jeans xanh bạc màu, chân mang bata cũ, kính cận dày cộm, tóc húi cua, tất nhiên, vai đeo một cái túi vải nâu to: tất cả cái sống ở trong đó, mà nặng nhất, anh bảo, là cuốn tự điển Anh-Việt.

Anh đem đến món quà người bạn gái làm việc cho một nguyệt san của tổ chức Unesco ỏ Hán Thành gửi cho tôi, một tập thơ của Kim Chi Hà. Kim Jean Sook bảo là để tôi học tiếng Triều Tiên, hẳn là cảm hứng từ câu chuyện tôi từng kể cho cô nghe ở Kyoto về việc bà nội tôi, mù chữ, đã tự học được tiếng Việt bằng truyện Kiều của Nguyễn Du.

Kim Jean Sook, biên tập viên Nguyệt san Unesco, Seoul. Ảnh: HWANG YOK PENG – Tokyo, 1974

Suốt buổi chiều, sau khi ăn một tô mì gói, Chung nằm ngủ ngay trên nền gạch bông, bên cạnh bàn làm việc của tôi. Khi chia tay, Chung chưa có địa chỉ…

… Tháng Bảy 1975. Một buổi sáng, khi đưa vợ đi chợ Trương Minh Giảng, bấy giờ được nâng cấp thành chợ Nguyễn Văn Trỗi, tôi gặp Chung ngồi ăn mì quảng, một mình, vẫn với cái túi vải bên người. Tôi ngồi gần, thấy tô mì đỏ ớt bốc khói làm mờ cả hai mặt kính cận của anh. Chung lặng lẽ chào tôi bằng chỉ một cái cười mỉm…

… Mấy tuần lễ trước khi tôi dẹp hẳn tiệm café “Fernand Léger”, đâu khoảng giữa 1983 có lẽ, một đêm mưa dầm, sắp tới giờ giới nghiêm, đường phố vắng ngắt, giữa lúc tôi sắp đóng cửa ra về, Chung ở đâu hiện ra ngay trước cửa tiệm, bên cạnh cái cột đèn, với một người bạn gái mà Chung giới thiệu với vợ chồng tôi trước là sinh viên Đại học Vạn Hạnh. Chung đưa tay chỉ cái cơ sở nay, giữa áo quần vải vóc, người ta còn treo cả chiếu, và những khẩu hiệu quen thuộc, ở bên kia đường, chỗ cái tranh Léger phóng lớn có thể nhìn thấy. Chiếc quần jeans Chung mặc bạc màu hơn, dưới chân một đôi dép Nhật đã mòn. Lần này chúng tôi ngồi chuyện trò khá lâu, và đến bấy giờ tôi mới biết cái buổi chiều “sum họp” của văn nghệ sĩ Saigon ở Tòa Đại sứ Đại Hàn trước mặt trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Saigon, vừa tức thì được tiếp quản, ngày đầu tiên khi thành phố này “hoàn toàn sạch bóng quân thù”, khi tôi nghe Hùng Cường “100% em ơi” réo rắt ba chữ “Hồ Chí Minh”, thì Chung cũng được nghe tiếng hí của ca sĩ ấy, ở một góc phòng bên cạnh, nhưng anh tránh gặp tôi. Tôi hỏi Chung hiện làm gì, anh trả lời, nguyên văn: thì tôi vẫn đang học tiếng Việt. Sau mấy tuần trà, nghĩ lại, hình như Chung không nói gì nhiều. Thế nhưng chuyện trò qua lại, tôi nhận ra là Chung hiểu gần hết mọi việc. Tôi cũng nhận ra là, nói sao cho đúng chữ đây, anh đã vỡ mộng. Người bạn gái trông hiền lành, thông minh, ít nói, gương mặt hơi Hoa hoa một chút, có vẻ rất thân với anh. Khi ra về, Chung nói rất tiếc là “không gặp anh được thường”, và mong có dịp chuyện trò với tôi nhiều hơn. Chung bước ra khỏi tiệm với cùng cái cười mỉm trước đó hơn tám năm, ở chợ Nguyễn Văn Trỗi.

… Mấy ngày sau, tôi gặp, mà không gặp anh: Chung gửi cho tôi một bài thơ dài, qua đường bưu điện, với con dấu từ thành phố Hồ Chí Minh, không phải về nhà, mà về tiệm café “Fernand Léger”. Một bản tiếng Triều Tiên và một bản tiếng Việt, Tạ lỗi Trường Sơn, do cô bạn gái chuyển ngữ, cả hai đều chép tay, trên giấy tập học trỏ. Cũng theo kiểu nói của cô Kim, Chung viết thêm bên lề “để anh học tiếng Triều Tiên”.

Tôi còn gặp Chung lần nào nữa? Đúng ra tôi gặp anh nhiều hơn thế. Trước hay sau vụ bài thơ, tôi không nhớ. Những biến chuyển trong xã hội và trên thế giới diễn ra mau quá, tôi có khi quên mất người bạn trẻ Đại Hàn. Có điều tôi nhớ chắc, là sau hai lần đỗi tiền, chúng tôi còn gặp nhau mấy lần nữa, chỉ gặp giữa đám đông, trong tiệm sách, tiệm phở, một lần khác ở chợ, vẫn ở cái chỗ mì quảng, một lần khác nữa ở chùa, đúng vào đêm lễ Phật đản, và mỗt lần, lạ thay, trên lề một quán cóc, ngồi uống café với những bạn viết văn trẻ, trong số tôi có biết mặt mấy người. Gặp nhau, mỉm cười, im lặng. Chung ngày càng gầy và càng giống người Việt Nam. Đôi mắt mỏng như hai vạch bút chì của anh sau hai mặt kính tròn (Chung đã đổi kính), cái duyên ở chỗ đó, có lẽ vẫn cùng thức với anh những đêm trắng, nay hình như đã hiện rõ hơn một tí, còn cái đầu tóc húi cua của ngày mới đến Việt Nam thì cứ dài ra, dài ra – trong khi người anh thì có vẻ nhỏ đi, nhỏ đi…

… Tôi nhớ có lần tôi hỏi: Này Chung, thật ra tên anh là Chung, họ là Kwan, hay tên là Kwan, họ là Chung? Chung mỉm cười: tên gì họ gì cũng thế thôi… anh không thấy sao, ngoài kia người ta xưng tên họ bú xua, thay đổi xoành xoạch!

CHUNG DO KWAN: … cái đầu tóc húi cua của ngày mới đến Việt Nam thì cứ dài ra, dài ra – trong khi người anh thì có vẻ nhỏ đi, nhỏ đi…

* Trích thư cho Diễm Châu ở Strasbourg, Pháp, viết từ thành phố Hồ Chí Minh & gửi đi từ Salt Lake City, Hoa kỳ, năm 1993, để dùng làm Lời giới thiệu tập thơ Tạ lỗi Trường Sơn – ấn phẩm dự kiến của Nhà xuất bản Trình bầy.

Advertisements